Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

Đoàn làm phim Đại ca U70 đến ghi hình và giao lưu


Cảnh các cụ đang chơi cờ đang được tiến hành ghi hình
 
 
Một cảnh cuộc thi khiêu vũ trong phim
 
 
 
 
Ông Cụ Điệt cười tươi khi tham gia đóng vai quần chúng
 
 
 
Anh Trung - Giám đốc trung tâm chụp hình với diễn Mạc Can

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Anh xin đưa em đi đến cuối cuộc đời

Khi được gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi. Anh là con độc đinh, cha mẹ quý hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật...

1. Sung túc
Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói phải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.
Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.

2. Cảnh nghèo
Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương thực, bệnh không khỏi.
Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư.
Vì thế bà mối đến, réo rắt: "Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha, còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà".
Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa? Nhưng chị xin: "Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha!".
Tiếng kèn đón dâu thổi váng đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị.
Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư!
Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài.
Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mẹ, tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng.
Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.

3. Cười xót xa
Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng.
Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái.
Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc.
Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai. Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v...
Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình. Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình: "Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?".
Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to: "Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì? Tắt đèn, thổi nến, lên giường..."
Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói:"Chị ơi, em yêu chị!".
Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.

4. An ủi nhỏ nhoi
Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay.
Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền.
Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua.
Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ.
Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi.
Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói: "Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành".
Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi.
Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay là mẹ của anh?
Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học.
Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt.
Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường.
Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa.
Nhưng anh vẫn nói: "Chị, chờ tôi quay về nhé!".
Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy.
Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.

5. Kiếp này
Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi.
Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc.
Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói: Chị đừng gửi tiền nữa. Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị.
Lúc đó chị đã 29 tuổi. Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát ly đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa.
Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa!
Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: Dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa: "Chị, chờ tôi quay về nhé!"; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ.
Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng. Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về.
Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất, dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết.
Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực.
Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu.
Chị không dám ngờ anh đã nói với chị: "Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!".
Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm.
Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị?
Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng cười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất đời người.

6. Xin lỗi
Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng.
Họ có với nhau một con trai, một con gái.
Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình.
Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng.
Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường.
Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà.
Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói:"Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn?".
Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị.
Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi.
Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch:"Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi".
Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt.

7. Năm tháng như bài ca, tình yêu như ngọn lửa
Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu.
Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậy chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế.
Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói:"Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy".
Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ.

Đoàn khách Hong Kong giao lưu một số tiết mục văn nghệ


---------------------------------------------------------------------------
VIỆN DƯỠNG LÃO BÌNH MỸ
Địa chỉ: 3D Đường 171,  Xã Bình Mỹ, Huyện Củ  Chi, TP. Hồ Chí Minh
Tổng đài: 1900757539
CSKH: 0901334660 - 0902334660 - 0909830066

Khi người ta gửi đi một nụ cười

Cô gái cười với một người xa lạ rầu rĩ, nụ cười làm cho anh ta cảm thấy phấn chấn hơn. Anh nhớ đến sự tử tế của một người bạn cũ và viết cho người ấy một lá thư cảm ơn. Người bạn này vui sướng vì nhận được thư của người bạn cũ lâu ngày không gặp đến nỗi, sau bữa trưa anh boa một món tiền lớn cho chị hầu bàn.
Chị hầu bàn ngạc nhiên vì món tiền boa quá lớn, đã quyết định mang tất cả đi mua xổ số. Và trúng số. Ngày hôm sau chị đi nhận giải và cho một người ăn mày trên phố một ít tiền lẻ. Người ăn mày rất biết ơn vì đã hai ngày nay anh ta chẳng được ăn gì. Sau bữa tối anh ta trở về căn phòng tối tăm của mình. Trên đường về, anh ta thấy một chú chó con đang rét run cầm cập, anh mang nó về để sưởi ấm cho nó. Chú chó rất vui mừng vì được cứu khỏi cơn bão tuyết sắp đến gần. Ðêm ấy, trong khi mọi người đang ngủ say thì ngôi nhà bốc cháy, chú chó con sủa róng riết. Chú sủa cho đến khi đánh thức tất cả mọi người trong nhà dậy và cứu tất cả mọi người thoát chết. Một trong những chú bé được cứu thoát đêm ấy sau này trở thành bác sĩ tìm ra một loại vắc-xin chữa khỏi một căn bệnh vô cùng nguy hiểm cho loài người.
Tất cả là nhờ một nụ cười.


Đoàn làm phim Đại ca U70 đến ghi hình và giao lưu

Một số cảnh quay trong phim 



 Một cảnh cuộc thi khiêu vũ trong phim








---------------------------------------------------------------------------
VIỆN DƯỠNG LÃO BÌNH MỸ
Địa chỉ: 3D Đường 171,  Xã Bình Mỹ, Huyện Củ  Chi, TP. Hồ Chí Minh
Tổng đài: 1900757539
CSKH: 0901334660 - 0902334660 - 0909830066

Bát bún riêu

Từ Auclair theo đường liên tỉnh 53 ngược lên mạn bắc là Salon Spring thì rẽ phải theo hương lộ P nhỏ hẹp ngoằn ngoèo lăn mình giữa những khu rừng phong ngút ngàn trùng điệp, tiếp tục thêm vào dăm vòng qua những lưng đồi thoai thoải dốc là tới thung lũng Nivagamond, trạm đặc khu của người Da Đỏ.
Trời vào thu, rừng phong đã thay chiếc áo choàng mầu hồng lựu. Hơn ½ giờ xe, không một bóng người ngoài tiếng gió thở dài, tiếng lá khô sào sạc, tiếng rừng cây trăn trở, không còn một âm thanh nào khác. Tôi cảm tưởng như lạc vào một hành tinh xa lạ không sinh vật. Ðồi lại đồi liền liền  tiếp nối nhau sau cùng tới Nivagamond. Nơi đây có viện dưỡng lão Lakeview mà theo lịch trình thì mỗi năm tôi phải đến 1 lần để thanh tra y vụ.
Lần đầu tiên đến đây nên tôi không khỏi ngỡ ngàng tưởng dù hẻo lánh đến đâu ít ra cũng có xóm làng, một giáo đường nho nhỏ hay vài ngôi nhà be bé xinh xinh nhưng tuyệt đối không. Ngoài rừng phong đỏ lá chỉ có hồ nước trong veo xanh ngắt mầu trời.
Trung tâm an dưỡng Lakeview như tên gọi ẩn mình dưới tàng cây rợp bóng trên khu đất rộng. Quay lưng vô rừng thông nhìn ra mặt hồ phẳng lặng như gương tôi ngẫm nghĩ, nơi đây có thể là điểm nghỉ ngơi lý tưởng cho những người quanh năm lao lực hoặc những ai muốn tìm sự quên lãng, còn chọn làm viện dưỡng lão thì hơi tàn nhẫn. Tuổi già vốn đã cô đơn mà nơi đây lại hầu như tách biệt với thế giới bên ngoài. Trừ y tá, y công và vài chuyên viên dịch vụ thì chẳng còn ai, người nào cũng bận bù đầu, rảnh rỗi đâu mà tán gẫu với những người già. Nhất là sau buổi cơm chiều khi hoàng hôn buông xuống, ai nấy đều đã về nhà thì bóng đêm chắc phải thật dài.
Vừa đẩy cửa bước vào tôi đã giật mình vì gặp một hàng 6 chiếc xe lăn đang dàn chào. Trên mỗi xe là 1 lão ông hoặc lão bà độ bẩy mươi, tám mươi, mái tóc bạc phơ, mắt hom hem sau làn mục kỉnh. Có người trông còn sáng suốt, người thì như xác không hồn. Họ chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân như quan sát một quái nhân  đến từ hành tinh khác.
Có lẽ vì tôi là người Á châu duy nhất tới đây chăng? Cô y tá hướng dẫn như đoán được cảm nghĩ của tôi bèn nhỏen miệng cười:
“Ông ngạc nhiên lắm sao?”
Tôi ngập ngừng:
“Bộ họ biết hôm nay tôi đến đây nên hiếu kỳ muốn trông thấy mặt tôi chắc?”
Cô y tá khẽ lắc đầu:
“Mỗi ngày đều như vậy, sáng nào họ cũng ngồi đó để mong chờ, ông ạ”.
“Chờ thân nhân tới đón?”
“Dạ thưa không”.
“Vậy hay là chờ bạn bè đến thăm?”
Cô y tá phì cười pha trò:
“Ông nghĩ già ngần ấy tuổi mà còn hẹn bạn gái sao?”
“Không, ý tôi là bạn thông thường đấy”.
“Nếu những người bạn ấy chưa nằm xuống thì cũng đang ngồi xe lăn như họ tại một viện dưỡng lão nào đó thôi, rồi ngậm ngùi họ mong chờ những hình bóng không bao giờ đến, xa xôi trong ký ức”
Rồi cô khẽ thở dài:
“Tôi làm việc ở đây hơn 10 năm, đã chứng kiến nhiều sinh hoạt của họ, tháng nào cũng có người mới tới và cũng có người vĩnh viễn ra đi”.
“Chắc ít nhiều, lòng cô cũng có phần nào sao xuyến, phải không cô?”
“Thật tình mà nói lúc đầu thì có đấy, nhưng mà bây giờ tôi đã quen rồi.
Chúng tôi vào thang máy lên tầng trên, một cụ già chống gậy tập tễnh vô theo. Cô y tá nhìn ông ta và hỏi:
“Ông đi lên thang máy hay là đi xuống?”
Cụ đáp như cái máy, giọng nói khò khè yếu ớt khó nghe:
 Ði.. . đi xuống . . . rồi đi.. . đi lên . . . rồi đi . . .đi xuống . . . đi lên”.
Tôi nhận thấy ông ta chẳng nhìn ai cả, ánh mắt không hồn đang hướng về phương trời vô định.
Dường như quá quen thuộc với những hiện tượng này, cô y tá thản nhiên nói: “Vậy thì xin ông bước ra chờ chuyến sau sẽ có người đi với, chúng tôi đang bận”.
Cô bèn nắm tay dẫn ông cụ ra ngoài rồi lạnh lùng khép cửa. Tôi thắc mắc:
“Nếu ông ấy lại tiếp tục bấm nút thang máy thì sao cô?”
“Chúng tôi đã lượng trước được điều ấy cho nên tất cả nút bấm điện trong viện đều gắn rất cao người già không thể với tới”.
À thì ra vậy.
Công tác xong trời cũng về chiều, tôi từ giã, cô y tá tiễn tôi ra cửa. Ðoàn xe lăn vẫn còn dàn chào. Chợt trông thấy trong góc tối 1 ông lão độ trên dưới 80 đang cô đơn ngồi bất động trên xe lăn như pho tượng cũ. Ðiểm khác biệt khiến tôi chú ý là ông ta không phải người da trắng và cũng không hoà nhập vào toán dàn chào. Da ông mầu đồng nâu có nhiều vết nhăn đậm nét thời gian hằn trên mặt. Mái tóc bạc phơ rủ lòa soà trên trán, vóc người bé nhỏ, mắt hom hem trân trối nhìn tôi như muốn nói điều gì. Tôi đoán chừng ông là thổ dân da đỏ.
Hiếu kỳ, tôi hỏi cô y tá:
“Vị dưỡng lão này cũng là người Indian hở cô?Tôi nghĩ đó là trách nhiệm của chính phủ liên bang chứ?”
Cô ta ngạc nhiên:
“Ủa, sao ông lại hỏi vậy?
Tôi trỏ ông lão ngồi xe lăn:
“Vậy không phải Indian là gì?”
Cô y tá phì cười:
“Ông ta là người Á đông đó ông ạ”.
Tôi giật mình:
“Người Á đông?”
“Dạ phải, dường như là Việtnam đó”.
Thêm một lần kinh ngạc, tôi không ngờ nơi vùng đất hẻo lánh đìu hiu lạnh lẽo này cũng có người Việt định cư?
Tôi bèn hỏi dồn:
“Sao cô biết ông ta là người Việt?”
Dạ thưa ông, hồ sơ có ghi đó ông ạ”.
“Vậy thì ông ấy vào đây lâu chưa cô?”
“Hơn 10 năm”.
Rồi cô khẽ lắc đầu:
“Tội nghiệp, ông ta rất hiền lành dễ thương ai cũng quí mến cả. Nhưng hiềm chẳng nói được tiếng Anh cho nên suốt ngày cứ thui thủi một mình không có bạn”.
Vậy thân nhân ông ấy có thường xuyên tới thăm ông ấy không?”
“Một lần cách đây lâu lắm.”
Hẳn có uẩn khúc gì đây. Không cam tâm làm ngơ trước người đồng hương đang gặp cảnh bẽ bàng nơi đất khách, tôi tự giới thiệu:
“Tôi cũng là người Việtnam”.
Cô ta trố mắt:
“Ồ!Thế mà tôi cứ đinh ninh ông là người Trung Hoa”.
Tôi cười:
“Trong mắt người Tây phương, thì bất cứ ai da vàng cũng là người tầu”.
Cô ta pha trò:
“Cũng đâu phải lạ, nhiều anh Tầu nhan nhản khắp nơi. Ngay trong xóm Da Đỏ hẻo lánh tít mù trên miền bắc cũng có.  Lần nào qua đó tôi cũng ghé mua cơm chiên, chả giò vừa ngon vừa rẻ nhưng phải cái là…
Tôi nhoẻn miệng cười:
“Mỡ dầu và bột ngọt hơi nhiều phải không cô?”
 Cô ta cười xoà:
“Phải nói là nhiều quá mới đúng.  Khổ công tập thể dục cả tháng, ăn một bữa cơm Tầu là đâu vào đấy, có khi còn thặng dư là khác”.
Tôi quay lại vấn đề:
“Tôi muốn tiếp xúc với ông lão người Việt để mà chào hỏi làm quen, có thể ông ấy cũng đang cần nói chuyện vì lâu lắm chưa có dịp”.
Cô y tá mừng rỡ:
“Hay lắm, đó cũng là điều tôi mong muốn. Vùng này hẻo lánh quá nên không tìm ra người thông dịch, nhân tiện nhờ ông hỏi xem ông ấy có nhu cầu hay đề nghị gì hầu chúng tôi đáp ứng không?”
“Vâng, tôi sẽ cố gắng làm điều đó cho cô”.
Thấy tôi đi tới ông lão ngước lên, nhíu đôi mắt hom hem nhìn chầm chập, vừa ngạc nhiên vừa thoáng chút ngại ngùng. Tôi gật đầu chào:
“Dạ thưa chào cụ ạ”.
Nét mặt rạng niềm vui, giọng nói của ông run run vì xúc động:
“Dạ chào, chào thầy, thầy là người Việt à?”
Giọng ông hơi nặng và chân thật. Tôi thân mật nắm tay ông:
“Thưa cụ cháu cũng là người Việt như cụ đấy ạ”.
Ông lại nghẹn ngào:
“Cảm ơn Thiên chúa, cảm ơn Ðức mẹ từ bi đã cho tôi gặp được ông”.
Tôi kéo ghế ngồi bên cạnh và bắt đầu trò chuyện:
“Thưa cụ, vì sao cụ cho là cuộc gặp gỡ hôm nay là do Thiên chúa và Ðức mẹ sắp đặt”.
“Tại vì đêm nào tôi cũng cầu nguyện ơn trên cho tôi gặp được người đồng hương”.
“Có chuyện gì khẩn cấp không thưa cụ?”
“Ðể được nói chuyện bằng tiếng Việt mình thôi”.
Cụ thở dài:
“Lâu lắm rồi tôi chưa được nói hay là nghe tiếng mẹ đẻ”.
Nhức trong tim, tôi bùi ngùi thương cảm, một ước mơ thật đơn giản mà sao quá xa vời.
Chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Ông kể:
“Tên tôi là Tỉnh, Nguyễn văn Tỉnh, trước kia ở Bình Tuy, làm nghề biển, có thuyền đánh cá. Tuy không giầu nhưng cuộc sống cũng sung túc. Tôi có vợ, ba con trai, đứa lớn nhất còn sống thì giờ này cũng đã gần 50. Năm 75, cộng sản tràn vào, cả nước kéo nhau chạy nạn, sẵn phương tiện trong tay tôi chở vợ con vượt thoát. Nhưng chẳng may là sau ba ngày lênh đênh trên mặt biển thì gặp bão lớn tầu chìm. Tôi và đứa con út lên sáu được may mắn đã gặp tầu Mỹ nó vớt, còn vợ và hai đứa con lớn thì mất tích thầy ạ. Sau đó thì tôi được bảo trợ về Louisiana, nơi đây có đông người đồng hương nên cũng đỡ buồn. Tôi bắt đầu tái tạo sự nghiệp, hùn hạp với bạn bè mua tầu đánh cá làm việc ngày đêm, trước là để vơi buồn, sau là tạo dựng tương lai cho thằng Út, giọt máu cuối cùng còn sót lại của tôi. Tôi ước mong thằng bé sẽ theo cha mà học nghề biển nhưng nó thì không muốn. Nó chỉ thích làm bác sĩ, kỹ sư ngồi nhà mát thôi chứ không chịu dãi nắng dầm mưa như bố, thế nên thầy biết không, vừa xong trung học là nó quyết chọn trường xa để mà tiếp tục theo đại học”.
Ông ngừng lại một chút để dằn cơn súc động rồi ngậm ngùi kể tiếp:
“Tôi chỉ có  mình nó, không thể sống xa con, nên  quyết định là bán hết tài sản để mà dọn theo, bạn bè ai cũng ngăn cản thầy ạ, nhưng tôi quyết giữ  lập trường, mang hết tiền dành dụm đến cái tiểu bang này mua một căn nhà nhỏ ở ngoại ô, còn chút ít thì gửi vào trong quỹ tiết kiệm lấy lời sống qua ngày. Hai cha con đùm bọc nhau, cuộc sống tuy chẳng sung túc nhưng chẳng nhẹ nhàng. Tuổi  ngày một già thì sức khoẻ  càng yếu, năm ấy trời mưa đá, tôi bị ngã gẫy chân thầy ạ. Bác sĩ cho biết xương già thì không có lành được và phải vĩnh viễn ngồi trên xe lăn. Thằng Út ra trường có việc làm tốt ở Nữu Ước.
Tự biết là khó có thể theo con và không muốn làm trở ngại bước tiến thân của nó nên tôi xin vào viện dưỡng lão. Tôi lên tiếng trước thầy ạ cho nó khỏi bị khó xử. Nó giúp tôi làm thủ tục và hứa là khi nào làm ăn yên ổn nó sẽ đón tôi về. Các viện dưỡng lão tương đối khá đều hết chỗ, may thay trong lúc đang bối rối thì có anh bạn học người da đỏ mách cho tôi nơi này. Thấy con tôi buồn tôi bèn an ủi nó:
“Nơi nào cũng là quê người, cũng giống nhau thôi, thỉnh thoảng con về thăm bố là bố vui rồi”.
Thế là cả ngôi nhà lẫn tiền dành dụm phải trao hết cho viện dưỡng lão, dĩ nhiên là tôi được nhận. Ánh mắt xa xôi nhìn về phía chân trời đang có đàn chim chiều đang soải cánh ông chép miệng:
“Chà nhanh quá, mới đó đã 10 năm rồi”.
“Thưa cu, thời gian qua chắc là anh Út vẫn thường xuyên về thăm cụ chứ?”
“Ừ, một năm thì nó cũng trở lại, nó khoe tôi hình cô gái Mỹ và nó nói, dâu tương lai của bố đó. Rồi thầy biết không, từ đó biệt tăm luôn”.
“Cụ hoàn toàn không biết tin tức gì về anh ấy sao?”
“Không, mà thật tình tôi cũng không muốn biết nữa”.
“Tại sao, anh ấy là con trai duy nhất của cụ mà? Cháu sẽ giúp cụ tìm anh ấy nhé?”
Ông lão rơm rớm nước mắt:
“Tôi sợ lắm, thầy ơi, thà biền biệt như thế mà tôi vẫn tin tưởng là nó đang sống tốt với vợ con ở một nơi nào đó trên quả đất còn hơn là biết tin buồn. Quả tình tôi không kham nổi”.
Tôi nghẹn lời nói không được, lát sau qua cơn xúc động, tôi bèn hỏi:
“Giờ đây cụ có còn ước nguyện gì thì cụ cho cháu biết, cháu sẽ hết lòng giúp cụ với tất cả khả năng của mình thưa cụ”.
Ông lão thở dài:
“Già rồi còn được mấy năm trước mặt hở thầy?“
Ánh mắt chợt linh động, ông nhìn tôi và chép miệng:
“Á, mà tôi thèm một bát bún riêu quá”.
Hai tuần sau vào ngày Chủ nhật, tôi nhờ chị bạn thân nấu dùm hai bát bún riêu cua, bún nước để riêng, có đầy đủ chanh, rau, nước mắm, ớt hiểm tươi còn đặc biệt có thêm lọ mắm ruốc thật ngon. Tôi cho tất cả vào túi xách đem vào viện dưỡng lão Lakeview. Mất hơn 4 giờ đường, sau cùng tôi đã tới.
Như lần trước, ông lão vẫn ngồi trên xe lăn gần cửa sổ cuối phòng. Bất ngờ trông thấy tôi ông mừng rỡ kêu lên:
“Ô kìa, thầy . . . thầy lại về đây công tác hở thầy?”
 Tôi chạy tới nắm tay ông:
“Dạ thưa lần này thì cháu chỉ đến đây thăm cụ và cháu có một món quà đặc biệt mang biếu cụ đây”.
Lộ vẻ cảm động ông cụ nhoẻn cười đôi mắt nhăn nheo:
“Bầy vẽ làm chi hở thầy, đến thăm tôi là quý rồi thầy ơi”.
Tôi xin phép ban quản lý đưa cụ ra vườn vì thức ăn nặng mùi mắm ruốc nên tôi phải mang theo một lọ cồn nhỏ để đun nóng ngoài trời.

Cụ chăm chú nhìn tôi bỏ bún ra tô, trộn rau ghém, nêm mắm ruốc, chan nước dùng nghi ngút bốc hơi, rắc chút tiêu thơm trên lớp gạch cua nổi vàng trên mặt. Nặn hai lát chanh tươi và sau cùng là ba quả ớt hiểm đỏ thơm nồng cay xé lưỡi. Không nén được thèm thuồng, chốc chốc cụ lại nuốt nước bọt. Tôi đặt tô bún riêu trước mặt và mời cụ cầm đũa.
Cụ run giọng: cám ơn thầy, không ngờ hôm nay tôi còn được ăn bát riêu cua. Mời thầy cùng ăn cho vui ạ. Cám ơn cụ, cháu đã ăn xong ở nhà, xin cụ dùng tự nhiên, bún riêu còn nhiều, hết tô này cháu sẽ hâm  tô khác cho cụ. Cụ trịnh trọng húp từng muỗng súp, gắp từng đũa bún, cắn từng miếng ớt cay ngon lành  như chưa từng được ăn ngon, chốc chốc cụ dừng tay để lau mồ hôi và luôn mồm khen tấm tắc:
“Trời ơi, bún riêu ngon quá mà mắm ruốc thơm quá thầy ơi”.
Tôi cảm động đặt tay lên vai cụ:
“Thưa nếu cụ bằng lòng nhận cháu làm con, cháu sẽ thay anh Út và thường xuyên thăm viếng cụ nhé”.
Cụ sững sờ nhìn tôi thật lâu như không tin ở tai mình rồi hai dòng nước mắt từ từ lăn dài trên đôi má hóp:
“Trời ơi, sao tôi có được diễm phúc như vậy sao trời!”
Tôi yêu cầu ban quản lý ghi tên tôi vào danh sách thân nhân, và dặn dò khi có chuyện cần thì cứ gọi.
 Năm sau, còn một ngày nữa là Tết, tôi đã chuẩn bị xong quà cáp có cả trà thơm, mứt ngọt dự định sáng hôm sau Mồng Một đầu năm sẽ mang lên Lakeview mừng tuổi cụ.
Ðang ngon giấc, chợt có chuông điện thoại, tôi nhấc ống nghe, bên kia đầu giây tiếng cô y tá trực của viện dưỡng lão Lakeview:
“Dạ thưa, xin cho tôi hỏi, có phải ông là ông Trần đó không?”
“Dạ vâng ạ, là chính tôi đây”.
“Dạ thưa ông, cụ Tính đau nặng”.
“Tình trạng thế nào có nguy không cô?”
“À, đang nằm phòng hồi sinh bệnh viện ở thành phố đó thưa ông”.
“Cám ơn cô rất nhiều, ngày mai tôi sẽ đến cụ”.
“À ông nên đi sớm hơn đi là vì sợ không còn dịp nữa:.
Tôi rụng rời, ngoài trời tuyết rơi càng lúc càng nhiều, trời trở lạnh, gió giật từng cơn, hoa tuyết bay nghiêng như ngàn vạn mũi tên bắn vào kính nghe rào rào như vãi cát. Không gian mờ mịt, rừng phong trắng xóa một mầu, tuyết phủ một lớp dầy trên mặt đất. Tôi rà thắng cho xe chạy chậm để khỏi rơi xuống hố. Sau cùng cũng tới được bệnh viện Hayward. Cô y tá nhìn tôi ái ngại.
“Thưa ông, suốt đêm qua ông ấy cứ gọi tên một người nào đó. Không biết có phải là ông không ạ?”
“Cô còn nhớ là ông ấy gọi tên gì không?”
“Chỉ một tiếng duy nhất, dường như là work hay út gì đó”.
Tôi đã hiểu là thằng út.
Tôi hé cửa lách vào trân trối nhìn ông rồi ngồi xuống bên giường, người ông khô đét, hai mắt nhắm nghiền, hơi thở yếu ớt. Tôi nhẹ nhàng đặt tay lên vầng trán nhăn nheo. Ông chợt cử động rồi thều thào
.. .Út. . . Út . . .”
 Nước mắt chực trào ra, giờ phút này tôi cần phải làm một điều gì để giúp ông được mỉm cười khi vĩnh biệt. Tôi bóp nhẹ bàn tay già gầy guộc và nghẹn ngào:
“Thưa cha, con đã về đây thưa cha”.
Mi mắt ông động đậy, cố nhướng nhìn lên. Rồi kiệt sức nên từ từ khép lại nhưng môi còn mấp máy:
“Út..Út, Út con”.
“Phải thưa cha con là út đây cha. Con là đứa con bất hiếu đã quay về bên cha để xin cha tha thứ cho con”.
Tôi cảm được các ngón tay khô gầy đang bắt đầu cử động trong lòng tay tôi, cố nắm giữ đứa con yêu đừng có xa rời.  Nước mắt tôi vô tình rơi xuống làn môi khô nứt nẻ đang hé một nụ cười. Gia tài ông để lại là một bọc vải nhỏ trong ấy có một tượng chúa Giê su bị đóng đinh trên cây thập giá và tấm hình đen trắng đã trổ vàng chụp gia đình 5 người đoàn tụ, đứa nhỏ nhất còn bế trên tay, tôi đoán nó tên là Út.
Tuổi xuân giờ đã đi đâu
Còn đây tóc bạc phai mầu thời gian
Về đây vui hưởng đào già
Cà phê dưỡng lão còn nhà nào hơn …???!!!
(Dường như do sự cố ý? Người viết không để tên)